Với công dân Ấn Độ muốn vào được Việt Nam cần đến Đại Sứ Quán Việt Nam ở Ấn Độ làm thủ tục giấy tờ xin visa Việt Nam, tùy thuộc vào mục đích chuyến đi mà nhân viên của Đại Sứ Quán cấp visa với thời hạn theo quy định nếu cảm thấy người đó đủ nhu cầu để được cấp visa.
Sau thời hạn hiện lực visa ở lại Việt Nam nếu người Ấn Độ muốn được ở lại thêm tại Việt Nam cần phải làm đơn xin cấp mới hoặc gia hạn thêm thời gian visa cho họ hay có thể quay về Ấn Độ để xin lại Visa.
Vậy khi hết hạn visa thì người Ấn Độ lên liên hệ đơn vị nào để gia hạn ? bạn có thể gia hạn tại văn phòng hoặc cục xuất nhập cảnh Việt Nam, tuy nhiên việc khác biệt về ngôn ngữ cũng như về pháp luật của Việt Nam là một trong những vấn đề gây khó khăn cho bạn, hay bạn đang ở các tỉnh thành khác không tiện đi lại nên Tp. HCM hay Hà Nội để gia hạn thì có thể liên hệ Visa để chúng tôi giúp bạn tiến hành gia hạn visa mà không cần phải tới. Chỉ cần cung cấp cho chúng tôi những giấy tờ và chi phí cần thiết gửi nên văn phòng chính của Visa . Nhân viên chúng tôi sẽ đi nộp và nhận visa trả về theo yêu cầu của quý vị.
Hiện nay có rất nhiều người Ấn Độ vào Việt Nam làm việc đầu tư kinh doanh, một trong những ngành nghề chính đó là ngành dịch vụ, tài chính, nhà hàng, khách sạn, quán ăn Ấn Độ.
Người Ấn Độ có thể gia hạn thêm 1 tháng 1 lần, 3 tháng 1 lần, 6 tháng 1 lần, 1 năm 1 lần theo quy định của pháp luật, tùy thuộc vào loại visa, tùy thuộc vào lý do, mục đích, và hoàn cảnh cụ thể của bạn mà thời hạn gia hạn visa Việt Nam khác nhau. Chính vì vậy hãy liên hệ với Visa để biết chi tiết.
Đối với các doanh nghiệp có nhân viên, sếp là người Ấn Độ hãy sử dụng dịch vụ xin gia hạn visa Việt Nam của công ty chúng tôi đảm bảo bạn sẽ hài lòng với dịch vụ, tốc độ và chi phí.
Mọi thông tin chi tiết xin liên hệ Visa để gia hạn visa Việt Nam cho người Ấn Độ.
Thương mại giữa hai nước tăng khá nhanh, từ 72 triệu USD (1995), lên trên 1 tỷ USD (2006) và 2,5 tỷ USD (2008). Tính đến tháng 10/2009 đạt 1,643 tỷ USD. Những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Ấn Độ sang Việt Nam là: Thức ăn gia súc, điện thoại di động, máy móc thiết bị, tân dược, chất dẻo nguyên liệu, sắt thép và kim loại khác, nguyên phụ liệu dược phẩm, nguyên phụ liệu dệt may và da, vải các loại, thuốc trừ sâu...Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang Ấn Độ là: than đá, hạt tiêu, linh kiện điện tử, cao su, quế, máy móc và thiết bị, thép, sợi, giày dép…
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Ấn Độ vào Việt Nam: tính đến tháng 9/2009, Ấn Độ có tổng cộng 35 dự án đầu tư còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký là 201,1 triệu USD, đứng thứ 32 trong tổng số 88 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư tại Việt Nam. Đáng chú ý, từ năm 2007, nhiều tập đoàn lớn khác của Ấn Độ như Essar, Tata đã quan tâm xúc tiến đầu tư vào Việt Nam.
- Về tín dụng: Từ năm 1976, Ấn Độ dành cho Việt Nam nhiều khoản tín dụng ưu đãi. Năm 2007, Ấn Độ công bố dành cho Việt Nam một khoản tín dụng ưu đãi trị giá 45 triệu USD cho dự án Thủy điện Nậm Chiến, hiệp định vay tín dụng này đã được ký vào tháng 1/2008. Ấn Độ tiếp tục công bố một khoản tín dụng mới cho Việt Nam trị giá 19,5 triệu USD.
- Về giáo dục-đào tạo: Ấn Độ giúp Việt Nam nhiều chương trình đào tạo ngắn và dài hạn với trên 100 suất học bổng các loại hàng năm, cả trong khuôn khổ song phương và đa phương (Hợp tác sông Hằng-sông Mê-công, Kế hoạch Colombo), trên nhiều lĩnh vực đặc biệt là đào tạo nông nghiệp, tin học và tiếng Anh, viễn thám. Ngày càng nhiều sinh viên Việt Nam sang Ấn Độ học tự túc do chất lượng và chi phí hợp lý. Việt Nam cũng đã cấp cho sinh viên Ấn Độ 02 học bổng đào tạo tiếng Việt trong năm học 2006/2007.
- Về khoa học-công nghệ: Hiệp định hợp tác về khoa học và công nghệ giữa Việt Nam và Ấn Độ được ký năm 1976, ký lại năm 1996. Tiểu ban hợp tác khoa học và công nghệ Việt Nam và Ấn Độ được thành lập năm 1997 và kỳ họp lần thứ 7 của Tiểu ban được tổ chức tại Hà Nội vào tháng 7/2008. Nghị định thư về Công nghệ thông tin Việt Nam - Ấn Độ được ký năm 1999. Dự án Hỗ trợ Phát triển nguồn nhân lực cho công nghiệp phần mềm ở Việt Nam sử dụng khoản viện trợ 2,5 triệu USD của Ấn Độ chuyển từ khoản lãi phạt tín dụng lương thực (Do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì) đã được triển khai hiệu quả từ năm 2001, kết thúc tháng 6/2008 với kết quả tốt.
- Về hợp tác văn hóa: Hiệp định hợp tác văn hóa giữa hai nước được ký năm 1976, là cơ sở cho Chương trình trao đổi văn hóa giữa hai nước, được gia hạn định kỳ (gần đây nhất được gia hạn trong chuyến thăm Ấn Độ của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng tháng 7/2007). Hai bên tiếp tục trao đổi đoàn nghệ thuật hàng năm.
- Về an ninh-quốc phòng: Hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực này phát triển tốt.
- Hai nước cũng hợp tác chặt chẽ trong khuôn khổ các diễn đàn khu vực và quốc tế: Ấn Độ ủng hộ Việt Nam trở thành thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc nhiệm kỳ 2008-2009. Việt Nam luôn ủng hộ Ấn Độ tăng cường quan hệ với ASEAN, tham gia vào hợp tác Đông Á, ủng hộ Ấn Độ làm Ủy viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc mở rộng.
- Hai nước đã ký các Hiệp định Thương mại, Tránh đánh thuế hai lần, Khuyến khích và bảo hộ Đầu tư, Lãnh sự, Hợp tác Văn hóa, Hàng không, Du lịch, Tương trợ tư pháp về hình sự...; đã ký các Thỏa thuận về Tham khảo chính trị giữa hai Bộ Ngoại giao, Hợp tác về Mỏ và Địa chất, Môi trường, Y học dân tộc và Nghị định thư về hợp tác quốc phòng. Tại Cấp cao ASEAN 15 tháng 10/2009 tại Hủa Hỉn, Thái Lan, hai nước ký Bản ghi nhớ công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường đầy đủ (MES). Nguồn chinhphu.vn
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét